Tất tần tật đái tháo đường tuýp 1, tuýp 2

Tìm hiểu bệnh đái tháo đường là gì, nguyên nhân triệu chứng, cách điều trị ra sao? Bệnh đái tháo đường có. mấy loại, bệnh đái tháo đường tuýp 1 2 là gì? Xem và tìm hiểu ngay trong bài viết sau đây bạn nhé

DNA Medical | 14-10-2019


Bệnh tiểu đường hay còn gọi là đái tháo đường là nhóm bệnh lý nội khoa mãn tính với biểu hiện lượng đường trong máu của bạn luôn cao hơn mức bình thường. Bệnh tiểu đường có ba loại chính, đó là tiểu đường tuýp 1, tiểu đường tuýp 2 và bệnh tiểu đường thai kỳ. Trong bài viết này chúng ta sẽ tìm hiểu đái tháo đường tuýp 1&2.

Đái tháo đường tuýp 1: 

Thường được gọi là đái tháo đường phụ thuộc insulin. Ở dạng bệnh này, các tế bào chuyên biệt trong tuyến tụy được gọi là các tế bào beta ngừng sản xuất insulin. Insulin là một hormone được sản xuất trong tuyến tụy giúp điều chỉnh lượng đường (glucose) trong máu. Cụ thể, insulin kiểm soát lượng đường được truyền từ máu vào các tế bào, nơi nó được sử dụng như nguồn năng lượng sống. Khi lượng đường trong máu cao (chẳng hạn như sau bữa ăn), tuyến tụy tiết ra insulin để chuyển lượng glucose vào trong tế bào, làm giảm lượng glucose trong máu. Thiếu insulin, tế bào không có khả năng sử dụng glucose, không tạo năng lượng dẫn đến lượng đường tiếp tục lưu thông trong máu tăng lên.

Thiếu glucose trong tế bào sẽ khiến gan cố gắng bù đắp bằng cách giải phóng thêm glucose vào máu, và lượng đường trong máu có thể trở nên rất cao. Các tế bào không thể sử dụng glucose trong máu sẽ đáp ứng bằng cách sử dụng chất béo thay thế. Để có thể sử dụng được năng lượng từ chất béo, quá trình tạo năng lượng sẽ sản xuất các sản phẩm chất thải được gọi là keton và có thể tích tụ đến mức độc hại.

Đái tháo đường tuýp 2: 

Thường được gọi là đái tháo đường không phụ thuộc insulin. Ở dạng bệnh này, theo một cơ chế nào đó mà cơ thể ngừng sử dụng insulin đúng cách. Hầu hết những người mắc bệnh đái tháo đường loại 2 trước tiên đều có kháng insulin, một tình trạng trong đó các tế bào của cơ thể sử dụng insulin ít hiệu quả hơn bình thường. Khi sự đề kháng insulin phát triển, cần nhiều insulin hơn để duy trì lượng đường trong máu ở mức bình thường

Tuổi khởi phát

Đái tháo đường tuýp 1: Bệnh đái tháo đường loại 1 có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi. Tuy nhiên, nó thường phát triển khi trưởng thành hoặc đầu tuổi vị thành niên.

Đái tháo đường tuýp 2: Bệnh đái tháo đường loại 2 có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng nó thường bắt đầu ở tuổi trung niên hoặc muộn hơn.

Tần suất bệnh đái tháo đường

Đái tháo đường tuýp 1:

Bệnh đái tháo đường loại 1 chiếm từ 5 đến 10 % tổng số ca bệnh đái tháo đường trên toàn thế giới. Không rõ lý do, trong 20 năm qua, tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường loại 1 trên toàn thế giới đã tăng từ 2 đến 5% mỗi năm. Có từ 10 đến 20 người mắc tiểu đường tuýp 1 trong mỗi 100.000 người ở Hoa Kỳ mỗi năm. Đái tháo đường tuýp 1 phổ biến ở châu Âu, Anh, Canada và New Zealand và hiếm gặp hơn ở châu Á và Nam Mỹ, với tỷ lệ mắc bệnh thấp khoảng 1/1.000.000 người mỗi năm. 

Đái tháo đường tuýp 2: 

Đái tháo đường là loại đái tháo đường phổ biến hơn, chiếm từ 90 đến 95% trong tất cả các trường hợp. Trong năm 2015, hơn 23 triệu người ở Hoa Kỳ đã được chẩn đoán mắc đái tháo đường và thêm 7 triệu người có khả năng bị đái tháo đường không được chẩn đoán. Tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường tăng theo độ tuổi. Hiện nay, bệnh hiện đang ảnh hưởng đến hơn 20% người Mỹ trên 65 tuổi. Đây cũng là nguyên nhân gây tử vong cao thứ 7 tại Hoa Kỳ.

Tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường đang gia tăng nhanh chóng trên toàn thế giới. Do sự gia tăng các lối sống không hoạt động (ít vận động), béo phì và các yếu tố nguy cơ khác, tần suất của bệnh này đã tăng hơn gấp bốn lần trong 35 năm qua.

Nguyên nhân bệnh đái tháo đường:

Đái tháo đường tuýp 1: Nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường loại 1 được tăng lên bởi một số biến thể gây bênh trong các gen HLA-DQA1, HLA-DQB1 và ​​HLA-DRB1. Các gen này thuộc về một họ trong bộ gen người và được gọi là phức hợp kháng nguyên bạch cầu người (HLA). Những gen này mã hóa tạo ra protein đóng vai trò quan trọng trong hệ miễn dịch, giúp hệ miễn dịch nhận biết, phân biệt các protein của cơ thể với các protein được tạo ra bởi những yếu tố gây hại từ môi trường như virus và vi khuẩn.

Đái tháo đường tuýp 2: Nguyên nhân của bệnh đái tháo đường loại 2 do phối hợp phức tạp của các yếu tố di truyền và lối sống. Các nghiên cứu đã xác định được hơn 150 biến thể của gen có liên quan đến nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường loại 2. Một điều thú vị là một số biến thể được tìm thấy ngay cả ở những người không mắc bệnh.

>>>Tìm hiểu thêm: Bệnh di truyền là gì

Nhóm gen liên quan bệnh đái tháo đường

tuýp 1: Nguy cơ phát mắc đái tháo đường loại 1 tăng lên bởi một số biến thể của gen:

CCR5, CTLA4, FOXP3, HLA-DQA1, HLA-DQB1, HLA-DRB1, HNF1A, IL2RA, IL6, INS, ITPR3, OAS1, PTPN22, SUMO4.

tuýp 2: Nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường loại 2 tăng lên bởi một số biến thể của các gen:

ABCC8, ASPA, BCKDHB, BLM, CFTR, CLRN1, DLD, ELP1, FANCC, FKTN, FMR1, G6PC, GBA, HEXA, MCOLN1, NEB, PCDH15, SMN1, SMPD1, TMEM216 

Triệu chứng bệnh đái tháo đường

Tiểu nhiều 

+ Glucose niệu kéo theo lợi niệu thẩm thấu làm tăng lượng nước tiểu, bệnh nhân thường xuyên mắc đi tiểu hơn người bình thường.

+ Lượng nước tiểu thường từ 3 - 4 lít hoặc hơn trong một ngày, nước trong, khi khô thường để lại vết bẩn hoặc mảng trắng.

+ Tiểu ban đêm do đa niệu có thể là dấu hiệu ban đầu của đái tháo đường ở trẻ nhỏ.

Ăn nhiều 

Cơ thể không thể sử dụng đường để cung cấp năng lượng làm cho bệnh nhân nhanh đói chỉ sau bữa ăn một thời gian ngắn.

Uống nhiều 

Mất nước làm kích hoạt trung tâm khát ở vùng hạ đồi, làm cho bệnh nhân có cảm giác khát và uống nước liên tục.

Gầy nhiều 

Dù ăn uống nhiều hơn bình thường, nhưng do cơ thể không thể sử dụng glucose để tạo năng lượng, buộc phải tăng cường chuyển hóa lipid và protid để bù trừ, làm cho bệnh nhân sụt cân, người gầy còm, xanh xao. Với bệnh nhân đái tháo đường loại 2 thường không có bất kỳ triệu chứng nào ở giai đoạn đầu và vì vậy bệnh thường chẩn đoán muộn khoảng 7 - 10 năm (kiểm tra đường máu là cách hữu hiệu cho phép chẩn đoán được bệnh ở giai đoạn này).

Cách điều trị bệnh Đái tháo đường

tuýp 1: Bệnh nhân bị đái tháo đường tuýp 1 cần phải tiêm insulin mỗi ngày.

tuýp 2: Đối với bệnh đái tháo đường tuýp 2, hiện tượng thiếu insulin do 3 bất thường: giảm insulin, kháng insulin và tăng sản xuất glucose từ gan. Do đó việc chữa bệnh đái tháo đường cần phải dùng các nhóm thuốc hạ đường huyết loại uống làm cho cơ thể tăng sản xuất chất insulin, làm giảm tình trạng kháng insulin, và ngăn ngừa hiện tượng hấp thụ carbohydrat ở ruột.


 

Tags:

Đăng ký tư vấn

Ung thư di truyền