Bệnh ung thư thực quản điều trị, nguyên nhân ra sao

Ung thư thực quản là gì? Ung thư thực quản là nguyên nhân phổ biến thứ sáu gây tử vong do ung thư trên toàn thế giới. Hai loại chính của ung thư thực quản là ung thư biểu mô tế bào vảy thực quản

DNA Medical | 10-08-2019


Ung thư thực quản là gì? Ung thư thực quản là nguyên nhân phổ biến thứ sáu gây tử vong do ung thư trên toàn thế giới. Hai loại chính của ung thư thực quản là ung thư biểu mô tế bào vảy thực quản (oesophageal squamous cell carcinoma, OSCC) và ung thư biểu mô thực quản (oesophageal adenocarcinoma, OAC), có tính dịch tễ học và khác biệt về mặt sinh học.

OSCC chiếm 90% tổng số ca bệnh ung thư thực quản trên toàn cầu và rất phổ biến ở, Đông Phi và Nam Mỹ. OAC phổ biến hơn ở các nước phát triển hơn ở các nước đang phát triển. Các tổn thương tiền ung thư có thể nhận biết được cho cả OSCC và OAC; Ung thư thực quản thường được phát hiện bằng các nội soi.

Hầu hết bệnh nhân ung thư thực quản đòi hỏi phải điều trị rộng rãi, bao gồm hóa trị, hóa trị liệu và / hoặc phẫu thuật cắt bỏ. Bệnh nhân ung thư thực quản ác tính hoặc di căn được điều trị bằng hóa trị liệu giảm nhẹ; những người là thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì của (gọi là epidermal growth factor receptor 2 - HER2) có thể cũng có lợi từ điều trị trastuzumab. Các liệu pháp ung thư miễn dịch cũng cho thấy kết quả sớm đầy hứa hẹn trong OSCC và OAC. 

Nội soi là tiêu chuẩn vàng để phát hiện và chẩn đoán ung thư thực quản, như các triệu chứng lâm sàng (khó khăn hoặc đau khi nuốt, giảm cân, khàn tiếng hoặc ho ra máu) và thường chỉ biểu hiện rõ ràng ở giai đoạn muộn.

Phòng ngừa chính dựa trên việc tránh các yếu tố nguy cơ. Đối với bệnh nhân di truyền Barrett thực quản (Barrett esophagus), phòng ngừa thứ cấp có thể bao gồm điều trị bằng thuốc ức chế bơm proton hoặc NSAID (ví dụ, aspirin). Hiện không khuyến cáo sàng lọc định kỳ các tổn thương tiền thân OAC và OSCC, ngoại trừ ở những người có tiền sử gia đình và có nguy cơ cao.

Tên gọi tương ứng: Oesophageal cancer, esophageal cancer

 

Nguyên nhân bệnh ung thư thực quản là gì:

Cả hai yếu tố nguy cơ về môi trường và di truyền đều đóng một vai trò trong sinh bệnh học của rối loạn này. Ở châu Âu và Bắc Mỹ, hút thuốc nặng, tiêu thụ rượu và chỉ số khối cơ thể tăng (BMI) là những yếu tố nguy cơ môi trường chính.

Ngược lại, tỷ lệ ESCC đặc biệt cao ở một số khu vực của Trung Quốc, Trung Á, và Nam Phi có liên quan đến sự thiếu hụt dinh dưỡng, ăn nhiều rau quả giàu hoặc giàu muối, và tình trạng kinh tế xã hội thấp; hút thuốc lá, uống rượu và BMI đóng một vai trò ít hơn trong những quần thể này.

Có khuynh hướng tổng hợp gia đình của ESCC ở các khu vực địa lý có nguy cơ cao, cho thấy một thành phần di truyền để tăng tính nhạy cảm. Ung thư biểu mô dạ dày tim là một loại ung thư phổ biến khác ở Trung Quốc cho thấy những điểm tương đồng với ESCC về mặt phân bố địa lý và các yếu tố nguy cơ môi trường (tóm tắt bởi Wang và cộng sự, 2010; Abnet và cộng sự, 2010).

Tính không đồng nhất di truyền của tính nhạy cảm với ung thư thực quản do biến thể trong gen ADH1B (103720.0001) liên quan người uống rượu. Bên cạnh đó biến thể trong gen ALDH2 (100650.0001) có thể có tăng nguy cơ ung thư thực quản ở người uống rượu do sự tương tác giữa các biến thể trong gen ADH1B và ALDH2.

Tần suất bệnh ung thư thực quản

Ung thư thực quản loại OSCC chiếm gần 90% trường hợp ung thư thực quản trên toàn thế giới, và đặc biệt phổ biến ở Đông Phi và Nam Mỹ. Tỷ lệ mắc OSCC đặc biệt cao từ phía bắc Trung Quốc (nơi tỷ lệ mắc bệnh hàng năm lên đến 100 trên 100.000 cá thể) qua Trung Á đến miền bắc Iran. Trong khi đó, Tỷ lệ mắc loại OAC tương đối cao ở châu Mỹ, châu Âu và Úc.

Nhóm gen liên quan: TP53, S100A14, CDKN2A, DEC1, DCC, DLEC1, TGFBR2, LZTS1, RNF6, WWOX, APC, RUNX3, ADH1B và ALDH2

Để sớm phát hiện bệnh ung thư thực quản nếu trong gia đình hoặc người thân bệnh ung thư thực quản  bạn có thể đến các trung tâm di truyền học hoặc liên hệ ngay DNA Medical để làm các xét nghiệm ADN nhằm sớm phát hiện để ngăn ngừa và điều trị kịp thời.

Đăng ký tư vấn

Ung thư di truyền