Ung thư buồng trứng có đáng sợ như chị em hay nghĩ

Ung thư buồng trứng là gì? Ung thư buồng trứng là một căn bệnh phụ khoa. Ở dạng ung thư này, một số tế bào trong buồng trứng trở nên bất thường và nhân lên không kiểm soát để hình thành khối u ung thư.

DNA Medical Technology | 10-08-2019


Ung thư buồng trứng là gì? Ung thư buồng trứng là một căn bệnh phụ khoa. Ở dạng ung thư này, một số tế bào trong buồng trứng trở nên bất thường và nhân lên không kiểm soát để hình thành khối u ung thư.

Buồng trứng là cơ quan sinh sản nữ giới, trong đó tế bào trứng được sản xuất. Trong khoảng 90% các trường hợp, ung thư buồng trứng ít xảy ra sau tuổi 40 và phần lớn các trường hợp khởi phát bệnh sau tuổi 60.

Dạng phổ biến nhất của ung thư buồng trứng đó là ung thư xảy ra trong tế bào biểu mô – là các tế bào lót trên các bề mặt và trong các hốc của cơ thể. Những ung thư này có thể phát sinh trong các tế bào biểu mô trên bề mặt buồng trứng. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cho rằng hầu hết nguyên nhân mắc bệnh ung thư buồng trứng đều có ung thư khởi phát từ các tế bào biểu mô trên rìa (tua buồng trứng) ở đoạn cuối của một trong các ống dẫn trứng; sau đó các tế bào ung thư di trú đến buồng trứng.

Ung thư buồng trứng cũng có thể khởi phát từ các tế bào biểu mô hình thành nên lớp niêm mạc bụng (phúc mạc). Dạng ung thư này được gọi là ung thư phúc mạc nguyên phát, tương tự như ung thư biểu mô buồng trứng cả về nguồn gốc, triệu chứng, sự tiến triển và cách điều trị. Ung thư phúc mạc nguyên phát thường lan đến buồng trứng.

Và ngược lại, ung thư phúc mạc cũng có thể xảy ra ngay cả khi buồng trứng đã được gỡ bỏ. Vì ung thư khởi phát từ buồng trứng, ống dẫn trứng và niêm mạc bụng là rất giống nhau và dễ lan đi từ cấu trúc này sang các cấu trúc khác của cơ thể nên chúng thường khó phân biệt. Những loại ung thư này có một sự liên quan mật thiết đến mức chúng thường được xem xét một cách tổng thể bởi các chuyên gia.

Trong khoảng 10% các trường hợp, ung thư buồng trứng không khởi phát từ các tế bào biểu mô nhưng là trong các tế bào mầm – tiền thân của tế bào trứng, hoặc trong các tế bào sản xuất hormone của buồng trứng được gọi là tế bào hạt (granulosa).

Trong giai đoạn đầu, ung thư buồng trứng thường không gây ra các triệu chứng đáng chú ý. Nhưng khi ung thư tiến triển, các dấu hiệu và triệu chứng bệnh ung thư buồng trứng có thể bao gồm đau hoặc khó chịu ở vùng chậu và bụng dưới, cảm giác mau no khi ăn, đau lưng, chảy máu âm đạo giữa thời kỳ kinh nguyệt và sau mãn kinh, thay đổi thói quen tiết niệu hoặc tiêu hoá. Tuy nhiên, những thay đổi này có thể xảy ra như là một phần của nhiều tình trạng bệnh khác nhau. Xuất hiện một hoặc nhiều triệu chứng này không có nghĩa là bệnh nhân đã mắc ung thư buồng trứng .

Trong một số trường hợp, các khối u ung thư có thể xâm nhập các mô xung quanh và lan sang các bộ phận khác của cơ thể. Nếu ung thư buồng trứng lan rộng, các khối u ác tính thường xuất hiện trong khoang bụng hoặc trên bề mặt của các cơ quan lân cận như bàng quang hoặc đại tràng. Các khối u thường bắt đầu từ một vị trí và sau đó lan sang các khu vực khác của cơ thể được gọi là ung thư di căn.

Đôi khi ung thư buồng trứng có thể xuất hiện ở nhiều thành viên trong gia đình. Những người mắc bệnh trong trường hợp này được mô tả là có liên quan đến đột biến gen di truyền. Ung thư buồng trứng di truyền có xu hướng phát triển sớm trong cuộc đời hơn so với những trường hợp không di truyền.

Vì thường được chẩn đoán ở giai đoạn muộn, nên ung thư buồng trứng có thể khó điều trị; căn bệnh này là nguyên nhân dẫn đến cái chết của khoảng 14.000 phụ nữ hàng năm tại Hoa Kỳ – nhiều hơn bất kỳ loại ung thư phụ khoa nào khác. Tuy nhiên, nếu được chẩn đoán và điều trị sớm thì tỷ lệ sống sót sau 5 năm sẽ cao hơn. 

 

Illustration of a uterus, fallopian tubes and ovaries. One of the ovaries is cancerous, with tumors and tissue damage pointed out.

 

Tên gọi tương ứng bệnh ung thư buồng trứng:

Cancer of the ovary, malignant neoplasm of the ovary, malignant tumor of the ovary, ovarian carcinoma

Xét nghiệm di truyền phân tử

+ Phân tích xóa / nhân bản

+ Quét đột biến toàn bộ vùng mã hóa 

+ Phân tích trình tự của các exon được chọn 

+ Quét đột biến các exon được chọn 

+ Phân tích trình tự của toàn bộ vùng mã hóa 

+ Phân tích biến thể được nhắm mục tiêu 

Tần suất bệnh:

Ung thư buồng trứng được chẩn đoán ở khoảng 22.000 phụ nữ tại Hoa Kỳ mỗi năm. Tỉ lệ nguy cơ phát triển ung thư buồng trứng ở phụ nữ là khoảng 1/75.

Nhóm gen liên quan:

AKT1 BARD1 BRCA1 BRCA2 BRIP1 CDH1 CHEK2 CTNNB1 MLH1 MRE11 MSH2 MSH6 NBN OPCML PALB2 PIK3CA PMS2 PRKN RAD50 RAD51C RAD51D STK11 TP53

Bệnh ung thư thường xảy ra khi đột biến được tích luỹ ở những gen quan trọng, đó có thể là các đột biến gen liên quan đến việc kiểm soát sự phát triển và phân chia tế bào hoặc sửa chữa DNA bị hư hại, khiến cho tế bào phát triển và phân chia không kiểm soát được để hình thành khối u.

Hầu hết các trường hợp ung thư buồng trứng đều không di truyền; trong các trường hợp này, những biến đổi di truyền được tích luỹ trong cơ thể và chỉ hiện diện ở một số tế bào nhất định trong buồng trứng.

Những biến đổi này được gọi là đột biến soma và không được kế thừa. Đột biến ở gen TP53 xảy ra ở gần một nửa trong tổng số các ca bệnh ung thư buồng trứng. Protein được tạo ra từ gen này được mô tả như là một chất ức chế khối u bởi vì nó giúp ngăn các tế bào phát triển và phân chia quá nhanh hoặc theo một cách không kiểm soát được.

Hầu hết các đột biến này làm thay đổi số lượng cũng như cách sắp xếp của các amino acids trong protein p53, từ đó làm giảm hoặc mất chức năng ức chế khối u của protein. Khi một protein bị biến đổi thì nó sẽ bị giảm khả năng điều chỉnh sự phát triển và phân chia tế bào, dẫn đến sự hình thành và phát triển của một khối u ung thư. Đột biến soma ở nhiều gen khác cũng đã được tìm thấy trong các tế bào ung thư buồng trứng .

Đối với bệnh ung thư buồng trứng di truyền, những đột biến gen thường được truyền xuống cho các thành viên trong cùng một gia đình. Những biến đổi này được gọi là đột biến giao tử vì nó có mặt trong tất cả các tế bào của cơ thể. Ở những người phụ nữ mang các đột biến giao tử, những biến đổi về di truyền cũng như đột biến soma cùng với các yếu tố môi trường và lối sống, cũng đều có thể ảnh hưởng đến khả năng phát triển ung thư buồng trứng.

Đột biến giao tử có liên quan đến hơn 1/5 tổng số các trường hợp mắc ung thư buồng trứng. Hiện có khoảng 65-85% các ca bệnh mang những đột biến xảy ra trên gen BRCA1 hoặc BRCA2 . Những đột biến gen này được mô tả là có tính "xâm lấn cao" vì chúng có liên quan đến nguy cơ phát triển nhiều bệnh như ung thư buồng trứng, ung thư vúmột số loại ung thư khác ở phụ nữ.

So với tỉ lệ nguy cơ phát triển ung thư buồng trứng ở phụ nữ trong tổng dân số (1,6%), thì nguy cơ một người phụ nữ có khả năng mang đột biến gen BRCA1 trong suốt cuộc của họ là khoảng từ 40-60% và nguy cơ một người phụ nữ có khả năng mang đột biến gen BRCA2 trong suốt cuộc đời của họ là khoảng từ 20-35%.

Những người đàn ông bị đột biến ở các gen này cũng có nguy cơ phát triển nhiều dạng ung thư. Các protein được mã hoá từ gen BRCA1 và BRCA2 thường là các chất ức chế khối u có liên quan đến việc sửa chữa DNA bị hư hỏng, giúp duy trì tính ổn định cho thông tin di truyền của tế bào. Những đột biến trong các gen này cũng có thể làm suy yếu sự sửa chữa DNA, cho phép các đột biến có khả năng gây tổn hại tồn tại trong DNA. Khi những đột biến này được tích lũy, chúng có thể kích hoạt các tế bào phát triển và phân chia một cách không kiểm soát để hình thành khối u.

Ngoài ra, sự gia tăng nguy cơ ung thư buồng trứng một cách đáng kể cũng là đặc điểm của một số hội chứng di truyền hiếm gặp, bao gồm một rối loạn gọi là hội chứng Lynch . Hội chứng Lynch thường được khởi phát khi xuất hiện những đột biến ở gen MLH1 hoặc MSH2 và chiếm từ 10-15% ung thư buồng trứng di truyền.

Một số hội chứng di truyền hiếm gặp khác cũng có thể làm tăng nguy cơ ung thư buồng trứng. Những protein được mã hoá từ các gen liên quan đến các hội chứng này hoạt động như những chất ức chế khối u. Những đột biến xảy ra ở bất kỳ gen nào liên quan đến các loại protein này đều có thể cho phép tế bào phát triển và phân chia không kiểm soát, dẫn đến sự phát triển của khối u ung thư.

Tương tự như BRCA1 và BRCA2, đột biến gen MLH1 và MSH2 được xem là có "cường độ cao" vì đột biến làm tăng nguy cơ phát triển ung thư ở người. Ngoài ung thư buồng trứng, đột biến ở những gen này cũng có thể làm tăng nguy cơ khởi phát một số loại ung thư khác ở cả nam và nữ.

Đột biến giao tử xảy ra ở những gen khác cũng được xem là các yếu tố nguy cơ có thể gây ung thư buồng trứng. Tuy nhiên, những gen này được mô tả là "mức độ thấm thấp" hoặc "mức độ thấm vừa phải" vì những thay đổi trong các gen này dường như chỉ đóng góp một phần nhỏ hoặc vừa vào nguy cơ mắc ung thư buồng trứng tổng thể. Một số gen trong số này mã hoá cho các protein có chức năng tương tác với những protein được tạo ra từ gen BRCA1 hoặc BRCA2 .

Mỗi một loại biến thể của gen sẽ tác động thông qua các con đường khác nhau. Các nhà nghiên cứu nghi ngờ rằng sự tương tác của các biến thể trong các gen này cũng có thể ảnh hưởng đáng kể đến nguy cơ phát triển ung thư buồng trứng của một người .

Trong nhiều trường hợp, những biến đổi di truyền liên quan đến ung thư buồng trứng hiện vẫn chưa được biết rõ. Việc xác định các yếu tố nguy cơ di truyền bổ sung đối với ung thư buồng trứng vẫn là một lĩnh vực hoạt động tích cực trong nghiên cứu y học.

Ngoài những biến đổi di truyền, các nhà nghiên cứu đã xác định được nhiều yếu tố cơ thể và môi trường góp phần vào nguy cơ phát triển ung thư buồng trứng của phụ nữ . Những yếu tố này bao gồm tuổi tác, sắc tộc, những yếu tố thuộc nội tiết và tăng sinh. Tiền sử bệnh ung thư buồng trứng xảy ra ở các thành viên trong gia đình cũng là một yếu tố nguy cơ quan trọng, đặc biệt nếu ung thư xảy ra ở tuổi trẻ.

Hotspot gen:

Một số đột biến xảy ra trên gen TP53: R175, R248 or R273

Một số đột biến xảy ra trên gen BRCA1: 185delAG, 5382insC, 5382insC, C61G

Một số đột biến xảy ra trên gen BRCA2: 6174delT, 995delG, 9326insA, 6174delT

Một số đột biến xảy ra trên gen MLH1: R265C

 

Kiểu hình di truyền: Trội trên NST thường

Hầu hết các ca mắc ung thư buồng trứng không phải do các yếu tố di truyền bẩm sinh gây ra. Những loại ung thư này có liên quan đến đột biến soma được tích luỹ trong cơ thể bệnh nhân và chúng thường không xuất hiện ở các thành viên khác trong gia đình.

Một dạng khác của căn bệnh này, đó là ung thư buồng trứng di truyền –  được thừa hưởng trong một mô hình trội trên NST thường, có nghĩa là một bản sao của gen bị biến đổi trong mỗi tế bào là đủ để làm tăng nguy cơ phát triển ung thư. Mặc dù ung thư buồng trứng chỉ xảy ra ở phụ nữ, nhưng gen đột biến có thể được thừa hưởng từ người mẹ hoặc người cha. Điều quan trọng cần lưu ý là những người thừa kế sẽ có khả năng mắc bệnh cao, chứ không phải chắc chắn sẽ phát triển bệnh.

Trong một vài trường hợp ung thư buồng trứng xuất hiện ở nhiều thành viên trong gia đình, cơ sở phân tử của bệnh học và cơ chế thừa hưởng di truyền không rõ ràng.

Tài liệu tham khảo:

+ Dietl J. Revisiting the pathogenesis of ovarian cancer: the central role of the fallopian tube. Arch Gynecol Obstet. 2014 Feb;289(2):241-6. doi: 10.1007/s00404-013-3041-3. Epub 2013 Oct 8. Review. Citation on PubMed

+ Jayson GC, Kohn EC, Kitchener HC, Ledermann JA. Ovarian cancer. Lancet. 2014 Oct 11;384(9951):1376-88. doi: 10.1016/S0140-6736(13)62146-7. Epub 2014 Apr 21. Review. Citation on PubMed

+ Kim YM, Lee SW, Chun SM, Kim DY, Kim JH, Kim KR, Kim YT, Nam JH, van Hummelen P, MacConaill LE, Hahn WC, Jang SJ. Analysis and comparison of somatic mutations in paired primary and recurrent epithelial ovarian cancer samples. PLoS One. 2014 Jun 17;9(6):e99451. doi: 10.1371/journal.pone.0099451. eCollection 2014. Citation on PubMed or Free article on PubMed Central

+ Kobayashi H, Ohno S, Sasaki Y, Matsuura M. Hereditary breast and ovarian cancer susceptibility genes (review). Oncol Rep. 2013 Sep;30(3):1019-29. doi: 10.3892/or.2013.2541. Epub 2013 Jun 19. Review. Citation on PubMed

+ Pennington KP, Swisher EM. Hereditary ovarian cancer: beyond the usual suspects. Gynecol Oncol. 2012 Feb;124(2):347-53. doi: 10.1016/j.ygyno.2011.12.415. Review. Citation on PubMed

Để sớm phát hiện bệnh ung thư buồng trứng nếu trong gia đình hoặc người thân bệnh ung thư buồng trứng  bạn có thể đến các trung tâm di truyền học hoặc liên hệ ngay DNA Medical để làm các xét nghiệm ADN nhằm sớm phát hiện để ngăn ngừa và điều trị kịp thời.

Tags:

BRCA1 BRCA2

Đăng ký tư vấn

Ung thư di truyền