Ung thư đường mật là gì - Nguyên nhân và điều trị ra sao

Ung thư đường mật là bệnh gì?Ung thư đường mật có tên tiếng Anh là Cholangiocarcinoma. Đó là một nhóm các bệnh ung thư bắt đầu trong các ống mật. Ống mật là ống nhánh nối gan và túi mật đến ruột non

DNA Medical Technology | 14-08-2019


Ung thư đường mật là bệnh gì?Ung thư đường mật có tên tiếng Anh là Cholangiocarcinoma. Đó là một nhóm các bệnh ung thư bắt đầu trong các ống mật. Ống mật là ống nhánh nối gan và túi mật đến ruột non. Chúng mang mật, là chất lỏng giúp cơ thể tiêu hóa chất béo trong thức ăn. 

Mật được sản xuất trong gan và được trữ trong túi mật trước khi được giải phóng vào ruột non sau khi ăn.

Ung thư đường mật được phân loại theo vị trí của nó liên quan đến gan. Ung thư đường mật  Intrahepatic bắt đầu trong các ống mật nhỏ trong gan. Đây là loại ít phổ biến nhất của bệnh, chiếm dưới 10 % của tất cả các trường hợp. 

Ung thư đường mật Perihilar (còn được gọi là khối u Klatskin) bắt đầu trong một khu vực được gọi là hilum, nơi hai ống mật chính tham gia và rời khỏi gan. Đây là dạng bệnh phổ biến nhất, chiếm hơn một nửa số trường hợp.

 Các trường hợp còn lại được phân loại là ung thư đường mật xa, bắt đầu từ ống dẫn mật bên ngoài gan. Các loại bệnh perihilar và dạng xa, cả hai xảy ra bên ngoài gan, đôi khi được gộp lại với nhau và được gọi là ung thư đường mật ngoài gan.

Ba loại ung thư đường mật thường không gây ra bất kỳ triệu chứng nào trong giai đoạn đầu, và ung thư này thường không được chẩn đoán cho đến khi nó đã lan ra ngoài ống dẫn mật đến các mô khác. Các triệu chứng thường xảy ra khi các ống dẫn mật bị khối u chặn lại. 

Các triệu chứng ung thư đường mật phổ biến nhất là vàng da và mắt trắng. Các triệu chứng khác có thể bao gồm ngứa, nước tiểu sẫm màu, chán ăn, giảm cân không chủ ý, đau bụng và phân có màu sáng và nhờn. Những triệu chứng này được mô tả là "không đặc hiệu" vì chúng có thể là đặc điểm của nhiều bệnh khác nhau.

Ung thư đường mật sống được bao lâu? Hầu hết những người phát triển ung thư đường mật là lớn hơn 65 tuổi. Vì ung thư này thường không được phát hiện cho đến khi nó đã lan rộng, nó có thể được thử thách để điều trị hiệu quả. Những người bị ảnh hưởng có thể sống trong vài tháng đến vài năm sau khi chẩn đoán.

Tên gọi tương ứng bệnh ung thư đường mật

- CC

- Cholangiocarcinoma of biliary tract

- Cholangiocellular carcinoma

- Extrahepatic cholangiocarcinoma

- Intrahepatic cholangiocarcinoma

Xét nghiệm loại bệnh

Cholangiocarcinoma, susceptibility to

Cơ chế bệnh học

Ung thư xảy ra khi tích tụ đột biến ở các gen quan trọng, gen mà kiểm soát sự phân chia tế bào, ví dụ: cho phép các tế bào phát triển và phân chia không kiểm soát để tạo thành một khối u. Trong hầu hết các trường hợp ung thư đường mật, những thay đổi di truyền này có được trong suốt cuộc đời của một người và chỉ hiện diện trong các tế bào ống dẫn mật làm phát triển khối u. 

Những thay đổi di truyền, được gọi là đột biến soma, không được di truyền. Đột biến soma ở nhiều gen khác nhau đã được tìm thấy trong ung thư đường mật. Một số gen này hoạt động như các chất ức chế khối u, có nghĩa là chúng giúp giữ cho sự phát triển và phân chia tế bào được điều hòa chặt chẽ. 

Các đột biến trong hoặc loại bỏ các gen ức chế khối u có thể cho phép các tế bào phát triển và phân chia mà không có sự kiểm soát hay trật tự, đó là dấu hiệu của ung thư. Các gen khác liên quan đến ung thư đường mật được phân loại là gen sinh ung (oncogenes); khi chúng được kích hoạt một cách bất thường, những gen này có khả năng làm các tế bào bình thường trở thành ung thư. 

Xác định các đột biến soma trong ung thư đường mật có thể cung cấp manh mối về việc ung thư sẽ phát triển và lây lan nhanh như thế nào và phương pháp điều trị nào có hiệu quả nhất.

Các nhà nghiên cứu cũng đã điều tra các biến thể di truyền trong một số gen như các yếu tố nguy cơ có thể gây ung thư đường mật. Những thay đổi di truyền này, được phân loại là đột biến gen, có mặt chủ yếu trong tất cả các tế bào của cơ thể. Tuy nhiên, không có thay đổi di truyền cụ thể nào được tìm thấy là các yếu tố nguy cơ chính gây ra bệnh này.

Một số yếu tố nguy cơ không di truyền đối với ung thư đường mật đã được xác định. Chúng bao gồm một bệnh ống mật được gọi là viêm xơ chai đường mật nguyên phát, sỏi mật hoặc u nang, và tiếp xúc với một số độc tố hóa học được sử dụng trong sản xuất. 

Ở Đông Nam Á, nhiễm giun ký sinh sống trong ống dẫn mật của con người làm tăng đáng kể nguy cơ phát triển ung thư đường mật. Các yếu tố nguy cơ khác đã được nghiên cứu bao gồm nhiễm trùng kéo dài với viêm gan B hoặc C, sẹo gan (xơ gan), và các bệnh mãn tính như hội chứng ruột kích thích và tiểu đường. Các nhà nghiên cứu nghi ngờ rằng các yếu tố về lối sống nhất định, bao gồm hút thuốc, sử dụng rượu và béo phì, cũng có thể góp phần vào nguy cơ phát triển ung thư đường mật .

Các nghiên cứu cho rằng sự kết hợp các yếu tố di truyền, môi trường và lối sống ảnh hưởng đến việc một người sẽ phát triển ung thư đường mật hay không. Tuy nhiên, hầu hết những người phát triển bệnh không có bất kỳ yếu tố nguy cơ nào được xác định.

Tần suất bệnh

Ung thư đương mật ảnh hưởng đến 2.000 đến 3.000 người mỗi năm ở Hoa Kỳ. Loại ung thư này xảy ra thường xuyên hơn ở các nước Đông Nam Á như Thái Lan, nơi nó liên quan đến nhiễm trùng với một loại ký sinh trùng phổ biến. Không rõ lý do gì, ung thư đường mật thường xảy ra ở nam giới ít hơn ở nữ giới.

Gen liên quan: 

Kiểu di truyền

Ung thư đường mật không được di truyền. Nghiên cứu cho thấy rằng liên quan đến máu của một người bị ung thư đường mật có thể có nguy cơ phát triển ung thư này so với người dân nói chung. Tuy nhiên, hầu hết những người bị ung thư đường mật không có tiền sử gia đình mắc bệnh.

Chat trực tuyến ngay với chúng tôi để được tư vấn chi tiết hơn về các gói xét nghiệm di truyền

Tags:

Đăng ký tư vấn

Ung thư di truyền