Ung thư phổi

Ung thư phổi là một căn bệnh mà trong đó một số tế bào nhất định của phổi trở nên bất thường và nhân lên không kiểm soát, tạo thành một khối u

DNA Medical Technology | 03-08-2019


Định nghĩa (Ung thư phổi):

Ung thư phổi là gì? Ung thư phổi là một căn bệnh mà trong đó một số tế bào nhất định của phổi trở nên bất thường và nhân lên không kiểm soát, tạo thành một khối u.

bệnh ung thư phổi là gì

Ung thư phổi có thể không xuất hiện dấu hiệu hoặc triệu chứng ở giai đoạn đầu. Một số người bị ung thư phổi có biểu hiện đau ngực, ho thường xuyên, có máu trong dịch nhầy, khó thở, khó nuốt hoặc nói, chán ăn và giảm cân, mệt mỏi hoặc sưng ở mặt và cổ.

Các triệu chứng khác có thể phát triển nếu ung thư đã lây lan (di căn) sang các mô khác. Ung thư phổi thường xảy ra nhất ở người lớn (khoảng 50-70 tuổi). Hầu hết những người bị ung thư phổi có tiền sử hút thuốc lá lâu dài; tuy nhiên, tình trạng này vẫn có thể xảy ra ở những người chưa từng hút thuốc.

Ung thư phổi thường được chia thành hai loại là ung thư phổi tế bào nhỏ và ung thư phổi không phải tế bào nhỏ, dựa trên kích thước của các tế bào bị ảnh hưởng khi nhìn dưới kính hiển vi.

Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ chiếm 85% các ca ung thư phổi, trong khi ung thư phổi tế bào nhỏ chiếm 15% còn lại.

Ung thư phổi tế bào nhỏ phát triển nhanh chóng và trong đa số các ca, người ta nhận thấy ung thư đã lan ra ngoài các cơ quan khác vào thời điểm tình trạng được chẩn đoán.

Ung thư phổi tế bào nhỏ thường di căn, phổ biến nhất là ở gan, não, xương, tuyến thượng thận (các tuyến nội tiết nhỏ sản xuất hormone nằm trên đầu mỗi thận).

Sau khi chẩn đoán, hầu hết những người mắc ung thư phổi tế bào nhỏ chỉ có thể sống sót trong khoảng 1 năm; ít hơn 7% có thể sống sót trong 5 năm.

Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ được chia thành ba loại chính: ung thư biểu mô tuyến, ung thư biểu mô tế bào vảy và ung thư biểu mô tế bào lớn.

Ung thư biểu mô tuyến phát sinh từ các tế bào xếp các túi khí nhỏ (phế nang) nằm trong phổi. Ung thư biểu mô tế bào vảy phát sinh từ các tế bào vảy nối các đường dẫn từ khí quản đến phế quản.

Ung thư biểu mô tế bào lớn phát sinh từ các tế bào biểu mô tuyến phổi. Ung thư biểu mô tế bào lớn được hiểu là ung thư phổi không phải tế bào nhỏ nhưng không phải là ung thư biểu mô tuyến hoặc ung thư biểu mô tế bào vảy.

Tỷ lệ sống 5 năm đối với những người bị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ thường là từ 11-17%; nó có thể thấp hơn hoặc cao hơn tùy thuộc vào phân nhóm và giai đoạn của ung thư.

Tên gọi tương ứng: 

Cancer of bronchus, Cancer of the lung, Lung malignancies, Lung malignant tumors, Lung neoplasms, Malignant lung tumor, Malignant neoplasm of lung, Malignant tumor of lung, Pulmonary cancer, Pulmonary carcinoma, Pulmonary neoplasms, Respiratory carcinoma

Xét nghiệm loại bệnh:

+ Xét nghiệm di truyền ung thư phổi

+ Phân tích RNA

+ Phân tích biến thể được nhắm mục tiêu

+ Phân tích chuỗi của toàn bộ vùng mã hóa

+ Phân tích chuỗi chọn exon

+ Phân tích xóa/trùng lặp

+ Quét đột biến chọn exon

Tần suất bệnh:

Tại Hoa Kỳ, ung thư phổi là căn bệnh ung thư được chẩn đoán phổ biến thứ hai, sau ung thư vú, chiếm khoảng 1/4 tổng số ca chẩn đoán ung thư. Người ta ước tính có hơn 222.500 người bị ung thư phổi mỗi năm.

Khoảng 6,6% dân số sẽ phát triển ung thư phổi trong suốt cuộc đời của họ. Ước tính khoảng 72-80% trường hợp ung thư phổi xảy ra ở những người hút thuốc lá. Ung thư phổi là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu do ung thư, chiếm khoảng 27% tổng số ca tử vong do ung thư ở Hoa Kỳ.

Nhóm gen liên quan:

TP53, EGFR, KRAS, ALK, BRAF, CDKN2A, DDR2, DLEC1, ERBB2, IRF1, KEAP1, MAP2K1, MAP3K8, MET, NF1, NRAS, NRG1, PIK3CA, PPP2R1B, PRKN, PTEN, RASSF1, RB1, RET, RIT1, ROS1, SLC22A18, SMARCA4, STK11.

Ung thư là một căn bệnh thường xảy ra khi những đột biến di truyền đã được tích tụ trong các gen quan trọng, đặc biệt là những gen kiểm soát sự phát triển và phân chia tế bào (tăng sinh) hoặc sửa chữa DNA bị tổn thương.

Những thay đổi này cho phép các tế bào phát triển và phân chia không kiểm soát để tạo thành khối u. Trong hầu hết các ca ung thư phổi, những thay đổi di truyền được tích luỹ trong suốt đời người và chỉ có mặt trong các tế bào phổi.

Những thay đổi này được gọi là đột biến soma và không được di truyền. Đột biến soma ở nhiều gen khác nhau đã được tìm thấy trong các tế bào ung thư phổi. Trong một số ít trường hợp, sự thay đổi di truyền được kế thừa và có mặt trong tất cả các tế bào của cơ thể (đột biến giao tử).

Đột biến soma trong gen TP53, EGFR, và KRAS là những đột biến phổ biến trong ung thư phổi. Gen TP53 mã hoá cho một protein, được gọi là p53, nó nằm trong nhân của các tế bào ở khắp cơ thể và nó gắn trực tiếp với DNA.

Protein này có vai trò điều chỉnh sự tăng trưởng và phân chia tế bào bằng cách kiểm tra những tổn thương xảy ra trong DNA. Khi DNA bị hư hỏng, p53 giúp xác định xem liệu DNA nên được sửa chữa hay đi vào quá trình tự huỷ tế bào (trải qua quá trình apoptosis).

Gen EGFRKRAS đều mã hoá cho một protein được đưa vào trong màng tế bào. Khi các protein này gắn kết với các phân tử khác, chúng sẽ được hoạt hoá và các con đường báo hiệu sẽ được kích hoạt trong các tế bào để thúc đẩy sự phát triển của tế bào.

Đột biến gen TP53 dẫn đến việc sản xuất protein p53 bị ảnh hưởng và làm protein này không thể liên kết với DNA. Protein sau khi bị biến đổi không thể điều chỉnh sự tăng sinh tế bào hiệu quả và cho phép tổn thương DNA tích lũy trong tế bào.

Các tế bào này có thể tiếp tục phân chia không kiểm soát, dẫn đến sự phát triển của khối u. Các đột biến trong gen EGFR hoặc KRAS dẫn đến việc tạo ra một protein liên tục được bật (được kích hoạt cấu thành).

Hậu quả là các tế bào liên tục nhận được tín hiệu để tăng sinh, dẫn đến hình thành khối u. Khi những biến đổi di truyền xảy ra trong các tế bào phổi, ung thư phổi phát triển.

Các đột biến ở nhiều gen khác đã được tìm thấy trong các ca ung thư phổi. Hầu hết các gen này đều tham gia vào việc điều chỉnh hoạt động gen (biểu hiện), kiểm soát sự tăng sinh tế bào, điều khiển quá trình trưởng thành tế bào để thực hiện các chức năng cụ thể (biệt hoá) và quá trình apoptosis.

Các nhà nghiên cứu đã xác định rằng chính lối sống và các yếu tố môi trường làm cho cá thể bị nhiễm các hợp chất gây ung thư (chất gây ung thư) và tăng tốc độ đột biến soma, làm tăng khả năng mắc ung thư phổi .

Yếu tố nguy cơ lớn nhất là hút thuốc lá lâu dài, thói quen này làm tăng nguy cơ phát triển ung thư phổi gấp 25 lần. Các yếu tố nguy cơ khác bao gồm tiếp xúc với ô nhiễm không khí, radon, amiăng, một số kim loại và hóa chất, hoặc khói thuốc phụ; sử dụng lâu dài liệu pháp thay thế hormone cho thời kỳ mãn kinh; có tiền sử bệnh phổi như bệnh lao, khí phế thũng, hoặc viêm phế quản mạn tính.

Tiền sử ung thư phổi của các thành viên trong gia đình cũng là một yếu tố nguy cơ quan trọng; tuy nhiên, vì người thân mắc ung thư phổi thường xuyên hút thuốc lá nên không rõ liệu nguy cơ gia tăng có phải là kết quả của yếu tố di truyền hay do tiếp xúc với khói thuốc thụ động hay không.

Hotspot gen:

Một số đột biến xảy ra trên gen TP53: P278S, R175H, R267P, R249S, R273H

Một số đột biến xảy ra trên gen EGFR: T790M

Một số đột biến xảy ra trên gen KRAS: G12C, G12V, G12D, G12A, G12S, G12R, G13C, G13D, Q61H

Kiểu hình di truyền: Trội trên NST thường

Hầu hết các trường hợp ung thư phổi không liên quan đến đột biến giao tử. Những loại ung thư này có liên quan đến đột biến soma chỉ xảy ra ở một số tế bào trong phổi.

Khi ung thư phổi có liên quan đến đột biến giao tử, khả năng mắc ung thư tuân theo mô hình trội trên NST thường, có nghĩa là một bản sao của gen bị thay đổi trong mỗi tế bào là đủ để làm tăng nguy cơ phát triển bệnh của một người.

Điều quan trọng cần lưu ý là những người thừa hưởng đột biến có nguy cơ mắc bệnh ung thư cao hơn, chứ không phải chắc chắn sẽ mang bệnh ung thư phổi.

Đăng ký tư vấn

Ung thư di truyền